Võng mạc trẻ sinh non: đã đến lúc cần hành động

Võng mạc trẻ sinh non: đã đến lúc cần hành động
Võng mạc trẻ sinh non: đã đến lúc cần hành động

Võng mạc trẻ sinh non: đã đến lúc cần hành động

 

Trẻ sinh non trước tuần 37 của thai kỳ thường mắc bệnh lý võng mạc. Nếu không được chăm sóc kỹ, những trẻ này có thể bị suy giảm thị lực hoặc mù vĩnh viễn. Hiện nay, bệnh võng mạc trẻ sinh non (VMTSN) có thể được phòng tránh và chữa trị.

 

Ước tính hằng năm có khoảng 15 triệu trẻ em sinh non (thai kỳ bình thường là 37 - 42 tuần). Ước tính hàng năm có khoảng 20.000 trẻ sẽ bị mù do VMTSN1 và thêm 12.300 trẻ bị suy giảm thị lực2.

 

Các quốc gia có số lượng trẻ sinh non cao là: Ấn Độ, Trung Quốc, Nigeria, Pakistan và Indonesia. Những khu vực Đông Á, Đông Nam Á và Châu ÁThái Bình Dương là những vùng có tỷ lệ trẻ sinh non sống sót và trẻ bị suy giảm thị lực do VMTSN cao nhất. (Hình 1). Tuy nhiên, hiện nay mọi khu vực trên thế giới đều bị ảnh hưởng.

 

Hình 1 Số lượng trẻ sinh non năm 2010 không bị suy giảm thị lực, bị suy giảm thị lực và bị mù

 

 

Trong gần 80 năm, bệnh võng mạc trẻ sinh non được xem là nguyên nhân gây mù đối với trẻ sinh sớm. Bệnh lý này lần đầu tiên được mô tả tại Hoa Kỳ là chứng xơ hóa võng mạc. Các yếu tố nguy cơ chính được nghiên cứu từ lâu. Hiện nay, điều trị bằng laser khấn cấp được đánh giá là biện pháp chữa trị hiệu quả. Đồng thời, chương trình khám sàng lọc và điều trị nhằm giúp giảm tỷ lệ mù trẻ em do VMTSN ở các nước thu nhập cao. Vậy tại sao võng mạc trẻ sinh non lại là nguyên nhân chính gây mù cho trẻ em tại các nước thu nhập trung bình – thấp? Có bốn nguyên nhân chính sau: 

  1. Nâng cao dịch vụ chăm sóc cho trẻ sinh non đồng nghĩa với việc tăng khả năng sống sót cho các em. Trên thế giới, sinh non là nguyên nhân gây ra 18% số ca tử vong của trẻ dưới 5 tuổi3, vì vậy các quốc gia đang nỗ lực giải quyết vấn đề này bằng cách nâng cao dịch vụ nhi sơ sinh.
  2. Chất lượng dịch vụ chăm sóc trẻ sơ sinh một số nơi còn thấp làm tăng nguy cơ ảnh hưởng thị lực do VMTSN.
  3. Không phải tất cả các trẻ sinh non có khả năng bị bệnh võng mạc đều được khám sàng lọc, hoặc khám sàng lọc không kỹ dẫn đến việc bỏ sót nhiều trẻ mắc bệnh cần điều trị kịp thời.
  4. Trong phần lớn các trường hợp, việc điều trị laze kịp thời đạt hiệu quả cao, tuy nhiên việc điều trị này có thể không được cung cấp đầy đủ và kịp thời.

Đối tượng trẻ em nào có nguy cơ cao nhất?

 

Trong bào thai, thai nhi phát triển trong môi trường tối, ấm áp và yên tĩnh, có thể di chuyển trong dịch ối. Chất dinh dưỡng và oxy được cung cấp liên tục thông qua dây rốn.  Việc tăng lượng oxy ở những trẻ sinh quá sớm gây ra thách thức lớn.

 

Những trẻ sau có nguy cơ bị VMTSN: 

  • Trẻ sinh quá sớm, ví dụ sinh sớm hơn từ 8 tuần trở lên so với thai kỳ bình thường hoặc tuổi thai ít hơn 32 tuần. Trẻ càng sinh sớm càng có nguy cơ bị VMTSN cao.
  • Trẻ sinh non với tuổi thai từ 32-36 tuần (sinh sớm 4-8 tuần) nhưng chế độ chăm sóc nhi sơ sinh kém.
  • Trẻ sơ sinh nhẹ cân (cân nặng lúc sinh dưới 1.500 g)
  • Trẻ thừa cân và chế độ chăm sóc nhi sơ sinh kém.
  • Trẻ nhận quá nhiều oxy trong thời gian dài (mức oxy máu cao làm tổn thương các mạch máu trong võng mạc)

Nguy cơ bị VMTSN tăng do: 

  • Trẻ thiếu dinh dưỡng kèm tăng cân kém trong suốt vài tuần đầu sau sinh
  • Trẻ bị nhiễm trùng trong vài tuần đầu sau sinh.
  • Các nguyên nhân khác khiến trẻ khó chịu: đau, thân nhiệt không ổn định, và không giữ trẻ ổn định trong nôi hoặc lồng ấp.

Các yếu tố nguy cơ càng tăng cao ở những cơ sở chăm sóc nhi sơ sinh mà: 

  • Nhân viên không được đào tạo đầy đủ
  • Thiếu nguồn nhân lực.
  • Thiếu trang thiết bị để cung cấp và theo dõi lượng oxy.
  • Các bà mẹ không được khuyến khích chăm sóc và cho con bú sữa mẹ.

 

Suy giảm thị lực có thể được phòng ngừa như thế nào?

 

Rất khó dự đoán hoặc kiểm soát các trường hợp sinh non, tuy nhiên chế độ chăm sóc nhi sơ sinh tốt, khám sàng lọc và điều trị laze kịp thời có thể giảm số trẻ sơ sinh bị mù hoặc suy giảm thị lực.

 

Các bác sĩ và y tá có thể giảm nguy cơ mắc bệnh VMTSN bằng cách: kiểm soát cơn đau, sử dụng khí oxy một cách cẩn thận, ngăn ngừa nhiễm trùng, cung cấp dưỡng chất thông qua bú sữa mẹ, kiểm soát thân nhiệt tốt, giữa ấm trẻ bằng thông qua phương cách đặt trẻ nằm tiếp xúc da kề da trên ngực mẹ (phương pháp Kangaroo).

 

Sàng lọc VMTSN là cần thiết để giúp trẻ giảm nguy cơ ảnh hưởng thị lực do bệnh lý gây ra. Khám sàng lọc thường do bác sĩ nhãn khoa nhiều kinh nghiệm thực hiện, sử dụng đèn soi đáy mắt gián tiếp. Ai khám và khám khi nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có chất lượng dịch vụ chăm sóc trẻ sơ sinh. Ở những nơi việc chăm sóc dưới điều kiện tốt nhất, trẻ em nên được sàng lọc để tránh bị đe dọa thị lực do VMTSN.

 

Trẻ vừa sinh ra có thể chưa có bệnh VMTSN, nhưng bệnh sẽ phát triển trong các tuần đầu sau sinh, cho nên việc khám sàng lọc đầu tiên nên được thực hiện trong vòng 30 ngày sau sinh. Thường xuyên theo dõi trẻ sau khi xuất viện. Mỗi quốc gia phải xác định các tiêu chí áp dụng trong chương trình khám sàng lọc.

 

Tất cả trẻ đã có dấu hiệu tiến triển đến giai đoạn đe đọa thị lực do VMTSN phải được điều trị khẩn cấp: trong vòng 48-72 tiếng.

 

Theo dõi tất cả trẻ sinh non là việc làm quan trọng vì chúng có nguy cơ bị một vài bệnh lý về mắt sau này làm suy giảm thị lực ngay cả khi VMTSN được điều trị. Các bệnh phổ biến nhất như: tật khúc xạ, bao gồm cận thị có thể trở nên nghiêm trọng trước 12 tháng tuổi. Lác mắt và suy giảm thị lực cũng khá phổ biến.

 

Những tiến bộ mới

 

Có một vài tiến bộ mới và quan trọng như nhận thức vai trò chăm sóc trẻ sinh non trong 1 tiếng đầu tiên sau sinh cực kỳ quan trong (đây được xem là thời điểm vàng). Chăm sóc trẻ bằng phương pháp Kangaroo là phương pháp đặt trẻ nằm tiếp xúc da kề da trên ngực mẹ hoặc bố nhằm giúp giữ ấm thân nhiệt của trẻ. Hệ thống chẩn đoán hình ảnh mới cho bệnh VMTĐN sẽ gần như thay đổi phương pháp sàng lọc, các phương pháp mới trong điều trị VMTĐN cũng đang được nghiên cứu thêm.

 

Những người cung cấp dịch vụ CSM có thể làm được gì?

 

Y tá, bác sĩ khoa nhi, bác sĩ nhãn khoa và bố mẹ là những người đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nguy cơ võng mạc trẻ sinh non. Tuy nhiên ở các nước thu nhập trung bình – thấp, việc thiếu nhận thức về bệnh VMTSN là một vấn đề khi nó không nằm trong chương trình đào tạo, thậm chí trong chương trình dành cho bác sĩ khoa nhi và bác sĩ nhãn khoa. Đó cũng là sự thiếu nhận thức chung trong cộng đồng.

 

Bác sĩ nhãn khoa có thể thăm phòng nhi sơ sinh hay một cơ sở y tế gần đó để kiểm tra các trẻ sinh non có được ghi nhận hồ sơ và được sàng lọc võng mạc không. Nếu không có, họ có thể thiết lập dịch vụ này (sau khi được đào tạo bài bản)4,5.

 

Bác sĩ nhãn khoa và chỉnh quang viên đóng vai trò tích cực trong việc theo dõi trẻ sơ sinh và những trẻ sinh non nhằm phát hiện, quản lý tật khúc xạ và các bệnh mắt khác như lác (lé).

 

Để nâng cao nhận thức về bệnh VMTSN, những người làm về chăm sóc mắt có thể chia sẻ các tài liệu liên quan đến các đồng nghiệp, bao gồm bác sĩ khoa sản, nữ hộ sinh, bác sĩ khoa nhi, chỉnh quang viên. Hình ảnh minh họa cũng rất hữu ích để giáo dục cho phụ huynh.

 

Một số trẻ sinh non trong giai đoạn tiến triển của bệnh VMTSN có thể còn giữ được một phần thị lực và nên được hỗ trợ bởi các dịch vụ chăm sóc cho người nhược thị (low vision). Số còn lại có thể bị mù hoàn toàn. Mù lòa sớm có thể dẫn đến chậm phát triển, những trẻ này nên được chuyển đến cơ sở phục hồi chức năng.

 

Kết luận

 

Ngày nay, bệnh võng mạc trẻ sinh non được biết nhiều hơn về các yếu tố nguy cơ. Đối với bệnh VMTSN, chỉ có khoảng thời gian ngắn để phát hiện và điều trị cho các trẻ có nguy cơ ảnh hưởng thị lực, trong một vài tuần hoặc tháng đầu tiên. Theo dõi trong thời gian dài là điều cần thiết. Mỗi cá nhân đóng vai trò khác nhau trong việc ngăn chặn mù lòa và suy giảm thị lực từ bệnh võng mạc trẻ sinh non và biến chứng lâu dài. Những cơ sở cung cấp dịch vụ nhược thị và phục hồi chức năng có thể giúp nâng cao chất lượng sống của trẻ trong tương lai. Bố mẹ đóng vai trò quan trọng nhất trong tất cả giai đoạn chăm sóc trẻ.

 

Tài liệu tham khảo

  1. March of Dimes, PMNCH, Save the Children, WHO. Born Too Soon: The Global Action Report on Preterm Birth. Eds CP Howson, MV Kinney, JE Lawn. World Health Organization. Geneva, 2012.
  2. Blencowe J, Lawn JE, Vazquez T, Fielder A and Gilbert C. Beyond newborn survival: Paper 3. Preterm associated visual impairment and estimates of retinopathy of prematurity at regional and global level for 2010. Pediatr Res 2013;54:36–49.
  3. Levels & Trends in Child Mortality. Report 2015. Estimates Developed by the UN Inter-agency Group for Child Mortality Estimation.
  4. Jalali S, Anand R, Kumar H, Dogra MR, Azad R, Gopal L. Programme planning and screening strategy in retinopathy of prematurity. Indian J Ophthalmol 2003 Mar;51(1):89–99.
  5. Darlow B et al. Setting up and improving retinopathy of prematurity programs. Clin Perinatol 2013 40:215-227.

 

Thai Song An – Trợ lý dự án

Nguồn: lược dịch từ https://cehjournal.org/article/retinopathy-of-prematurity-it-is-time-to-take-action/

19/04/2018
Hãy chung tay cùng FHF
Việt Nam hiện có hơn 500.000 người bị mù cả hai mắt, trong đó có hơn 23.000 trẻ em. 80% người mù lẽ ra đã có thể được phòng tránh và chữa trị kịp thời.