Thực trạng mù lòa và suy giảm thị lực trên thế giới

Thực trạng mù lòa và suy giảm thị lực trên thế giới

Thực trạng mù lòa và suy giảm thị lực trên thế giới:

Vấn đề vẫn đang gia tăng bên cạnh nhiều thành công đạt được.

 

Trong vòng ba mươi năm qua, tỷ lệ người bị suy giảm thị lực (SGTL) và mù lòa đã giảm một cách đáng kể. Tuy nhiên, dân số ngày càng tăng và già đi có nghĩa là việc loại bỏ mù lòa có thể phòng tránh được hiện nay đang gặp thách thức lớn hơn bao giờ hết.

 

Hình 1: Các số liệu quan trọng về các ước tính toàn cầu mới nhất của Nhóm chuyên gia hành động ngăn chặn mất thị lực

 

Chúng ta đã đi một chặng đường dài trong cuộc hành trình hướng tới xóa bỏ mù lòa và SGTL trên toàn cầu trong ba thập kỷ qua. Nhờ vào hoạt động của Nhóm Chuyên Gia Hành Động Ngăn Chặn Mất Thị Lực (Nhóm), bây giờ có thể nêu ra những gì đã đạt được và những gì cần phải giải quyết.

 

Gần đây, Nhóm đã công bố các ước tính chi tiết về tỷ lệ mù lòa và SGTL toàn cầu - trong quá khứ, hiện tại và tương lai - ở cấp độ toàn cầu, khu vực và quốc gia. Các ước tính này được thu thập từ phân tích chi tiết của 288 cuộc điều tra dân số tiến hành trên 98 quốc gia từ năm 1980 đến giữa năm 2014. Mặc dù các ước tính chủ yếu tập trung vào sự mất thị lực nhìn xa (viễn thị), dữ liệu về mất thị lực nhìn gần (cận thị) cũng được bao gồm. Thông tin phong phú mà Nhóm tạo ra đã được tóm tắt trong Tập bản đồ Thị lực của Ủy Ban Phòng Chống Mù lòa quốc tế (IAPB). Tập bản đồ Thị lực bao gồm một loạt bản đồ nơi bạn có thể tìm thấy các ước tính mới nhất cho quốc gia của bạn bằng một cú nhấp chuột tại trang điện tử http://atlas.iapb.org/gvd-maps.

 

Xu hướng và mô hình chung

 

Các số liệu quan trọng về các ước tính toàn cầu mới nhất của Nhóm được tóm tắt trong Hình 1. Năm 2015, khoảng 253 triệu người bị SGTL trên toàn cầu. Trong số này, có 36 triệu người mù và 217 triệu người bị SGTL vừa và nặng (MSVI). Tỉ lệ người bị SGTL nhìn xa chiếm khoảng 3,4% dân số thế giới, trong đó 0,49% người mù và 2,95% người MSVI. Hơn 1,1 tỷ người được ước tính có khả năng bị chứng viễn thị.

 

Tuổi tác

Nguy cơ mắc hầu hết các bệnh mắt tăng theo tuổi tác; do đó, các nhóm tuổi càng lớn, tỷ lệ mù và SGTL là càng lớn hơn nhiều. Hình 2 cho thấy điều này đối với phụ nữ (kết quả giống đối với nam giới). 80% trong số 253 triệu người SGTL trên toàn thế giới là người từ 50 tuổi trở lên

  

Hình 2: Tỷ lệ mù và SGTL ở mức độ vừa đến nặng (MSVI) ở phụ nữ trên toàn cầu

 

 

Vấn đề Giới

 

Trong số 253 triệu người trên thế giới bị SGTL, 55% là phụ nữ (139 triệu). Một số yếu tố góp phần vào sự mất cân bằng giới này, bao gồm tuổi thọ của phụ nữ cao hơn so với nam giới, có nghĩa là có nhiều phụ nữ ở các nhóm có nguy cơ mắc bệnh mắt cao hơn (hình 2) ). Ngoài ra, phụ nữ có nguy cơ phát triển các bệnh mắt nhất định cao hơn so với nam giới. Ở một số nước, do tác động của nhiều yếu tố kinh tế xã hội và văn hoá, phụ nữ gặp một số bất lợi về tiếp cận dịch vụ chăm sóc mắt.

 

Dữ liệu khu vực

 

Nhóm chuyên gia đã sử dụng 21 khu vực do Nghiên cứu về Gánh nặng Bệnh tật Toàn cầu (www.telancet.com/gbd) phân giới để phân tách dữ liệu toàn cầu và đưa ra các dự toán về khu vực. 21 khu vực này xếp các quốc gia theo vị trí địa lý nhưng cũng có các yếu tố khác, kể cả tình trạng kinh tế xã hội của quốc gia đó.

 

Tình trạng kinh tế xã hội

 

89% người SGTL sống ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Ba khu vực của Châu Á là nơi chiếm 62% số người bị SGTL trên toàn thế giới, mặc dù Châu Á chỉ chiếm 51% dân số thế giới: Nam Á (73 triệu), Đông Á (59 triệu) và Đông Nam Á (24 triệu). Tỷ lệ người SGTL thấp nhất là ở năm vùng có thu nhập cao với 14% dân số thế giới, nhưng chỉ có 11% số người có SGTL.

 

Hồ sơ tuổi

 

So sánh các khu vực không đơn giản nếu chỉ nhìn vào tổng thể số lượng hoặc tỷ lệ; điều này là do sự khác biệt về số liệu tuổi tác ở mỗi vùng; ví dụ là một số quần thể có thể có tỷ lệ lớn người cao tuổi và trẻ em ít hơn so với những quần thể khác. Một kỹ thuật được gọi là 'tiêu chuẩn hóa tuổi' giúp cho việc so sánh các nhóm quần thể có độ tuổi khác nhau và xem xét những thay đổi theo thời gian.

 

Tỷ lệ SGTL đã tiêu chuẩn hóa tuổi ở các vùng nghèo trên thế giới gấp bốn lần so với ở các khu vực có thu nhập cao.

 

Nhóm chuyên gia cũng đã xuất bản một bài báo thứ hai xem xét các nguyên nhân gây SGTL. Bảng 1 tóm tắt các ước tính về các nguyên nhân gây mù, SGTL vừa phải đến nặng, và mù kết hợp SGTL. Dữ liệu thể hiện cho năm 2015 và được trình bày cả về số lượng tuyệt đối và tỷ lệ phần trăm.

  

Bảng 1: Bảng ước tính của Nhóm chuyên gia về các nguyên nhân gây SGTL năm 2015 

Nguyên nhân

SGTL vừa phải đến nặng

Tất cả các SGTL

Thị lực <3/60 đến ánh sáng âm

<6/18 – 3/60

<6/18 đến ánh sáng âm

Triệu người

%

Triệu người

%

Triệu người

%

Đục TTT

12,6

35

52,6

24

65,2

26

Tật khúc xạ chưa chỉnh kính

7,4

21

116,3

54

123,7

49

Glôcôm

3

8

4

2

7

3

Thoái hóa hoàn điểm tuổi già

2

5

8,4

4

10,4

4

Bong võng mạc

1,3

4

2,9

1

4,2

2

Mắt hột

0,4

1

1,6

1

2

1

Võng mạc đái tháo đường

0,4

1

2,6

1

3

1

Các nguyên nhân khác

8,9

25

28,2

13

37,1

14

Tổng cộng

36

100

216,6

100

252,6

100

 

Thay đổi theo thời gian

Nhóm chuyên gia đã đưa ra các ước tính toàn cầu kéo dài từ năm 1990 và dự đoán cả trong tương lai để đưa ra các ước tính từ năm 2020 đến năm 2050; kết quả được tóm tắt trong Bảng 2. Thoạt nhìn, số người mù hoặc có SGTL tăng dần từ năm 1990 đến năm 2015 có vẻ đáng thất vọng. Tuy nhiên, trong giai đoạn 25 năm này, đã có hai thay đổi nhân khẩu học quan trọng có thể làm tăng số người SGTL:

 

1. Dân số thế giới tăng 38%: từ 5,3 tỷ năm 1990 lên 7,3 tỷ vào năm 2015.

 

2. Dân số cao tuổi trên thế giới và tổng dân số trên 50 tuổi đã tăng gần gấp đôi: từ năm 878 triệu năm 1990 lên 1.640 triệu vào năm 2015.

 

Từ hai sự thay đổi lớn này, tỷ lệ người mù đã được chuẩn hóa theo độ tuổi toàn cầu (tất cả độ tuổi) trên thực tế có sự suy giảm cơ bản: đã giảm từ 4,58% năm 1990 xuống còn 3,38% vào năm 2015. Một số yếu tố đã góp phần vào sự suy giảm đáng khích lệ này - bao gồm cả các mức nghèo đói suy giảm, các điều kiện gây bệnh nhất định giảm hoặc khởi phát sau đó, các biện pháp y tế công cộng được cải thiện và sự phát triển dịch vụ chăm sóc mắt.

 

Bảng 2: Các ước tính toàn cầu của Nhóm chuyên gia về số người mù và SGTL vừa đến nặng từ năm 1990 đến 2050.  

Năm

Số người trên toàn cầu ở tất cả các lứa tuổi bị ảnh hưởng (triệu người)

 

SGTL vừa đến nặng

1990

31

160

2000

32

176

2010

34

199

2015

36

217

2020

39

237

2030

55

330

2040

80

451

2050

115

588

 

Tương lai

Nhưng những gì có thể xảy ra trong tương lai? Dữ liệu của Liên hợp quốc được tóm tắt trong Bảng 3, cho chúng ta biết rằng dân số toàn cầu là 7,3 tỷ vào năm 2015. Điều này dự đoán sẽ tăng lên 7,8 tỷ vào năm 2020 và tới 9,7 tỷ vào năm 2050.

 

Dân số ngày càng tăng đồng nghĩa là sẽ già đi với tốc độ nhanh hơn nhiều so với những năm trước. Vào năm 2015, có 901 triệu người trên 60 tuổi (12% dân số thế giới). Đến năm 2050, số người trên 60 tuổi được dự đoán sẽ tăng lên 2,1 tỷ (22% dân số).

 

Bảng 3: Các ước tính của nhóm chuyên gia về sự tăng trưởng dân số và số người già 

 

2015

2050

Dân số toàn cầu

 7,3 tỷ người  9,7 tỷ người 

>60 tuổi

 0,9 tỷ người  2,1 tỷ người

>80 tuổi

125 triệu người

434 triệu người

 

Số người trên 80 tuổi dự đoán sẽ tăng tương đối lớn; ước tính hiện tại là 125 triệu vào năm 2015 dự kiến ​​sẽ tăng lên gấp ba lần vào năm 2050, lên tới 434 triệu. Như trong Hình 2, tỉ lệ SGTL tăng lên nhanh chóng theo độ tuổi. Ở độ tuổi 60, khoảng 1 trong 9 người sẽ bị mù hoặc có SGTL. Ở tuổi 80, tỷ lệ này tăng lên đáng kể: khoảng 1 trong 3 người sẽ bị mù hoặc có SGTL.

 

Sự kết hợp của một dân số ngày càng tăng và già đi sẽ dẫn đến sự gia tăng số lượng người mù hoặc có SGTL. Hai yếu tố khác cũng có nguy cơ lớn cho tương lai là sự gia tăng đột ngột số người mắc bệnh tiểu đường (có thể gây ra chứng võng mạc tiểu đường, tình trạng mù lòa tiềm ẩn) và những người có cận thị cao ở tất cả các nơi trên thế giới.

 

Nhìn chung, có thể khoảng 703 triệu người mù hoặc bị SGTL vào năm 2050 (như thể hiện trong Bảng 2). Vì thế cần có một khoản đầu tư lớn vào các dịch vụ chăm sóc mắt, cùng với việc bảo vệ các cộng đồng nghèo nhất trong xã hội khỏi phải chi trả các khoản chi phí điều trị, để đảm bảo tiếp cận phổ cập cho tất cả mọi người tới sức khoẻ mắt và ngăn ngừa thảm họa của con người và xã hội trong tương lai.

 

Tác giả:

-  Peter Ackland – Giám đốc điều hành Ủy Ban  Phòng Chống Mù Lòa Quốc Tế, Luân Đôn, Anh.

-  Serge Resnikoff – Chủ tịch Hiệp Hội Phòng Chống Mắt Hột Quốc Tế (ICTC), Geneva, Thụy Sĩ.

- Rupert Bourne – Tư vấn, phẫu thuật viên nhãn khoa, Khoa mắt, bệnh viện Hinchingbrooke, Huntingdon, Anh.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Bourne RRA, Flaxman SR, Braithwaite T, Cicinelli MV, Das A, Jost B et al., on behalf of the Vision Loss Expert Group. Magnitude, temporal trends and projections of the global prevalence of blindness and distance and near vision impairment: a systematic review and meta-analysis. Lancet 2017;5(9): e888-e879.
  2. Flaxman SR, Bourne RRA, Resnikoff S, Ackland P, Braitwaite T, Cicinelli MV et al., on behalf of the Vision Loss Expert Group. Global causes of blindness and distance vision impairment: 1990-2015 and projections to 2020 – a systematic review and meta-analysis. Lancet, 2017. Published online first:11 October 2017. http://dx. doi.org/10.1016/ S2214- 109X(17)30393-5
  3. United Nations, Department of Economic and Social Affairs, Population Division (2015). World Population Prospects: The 2015 revision, key findings and advance tables. Working Paper No. ESA/P/WP.241.

 

Phan thi Trang, FHFVN

Nguồn: lược dịch từ:

https://cehjournal.org/wp-content/uploads/World-Blind-Pages-from-CEHJ100_Online_newMSD-21.pdf

 

09/04/2018
Hãy chung tay cùng FHF
Việt Nam hiện có hơn 500.000 người bị mù cả hai mắt, trong đó có hơn 23.000 trẻ em. 80% người mù lẽ ra đã có thể được phòng tránh và chữa trị kịp thời.