Cố giáo sư Fred Hollows đến Việt Nam lần đầu tiên vào tháng 4/1992 theo lời mời của Giáo sư Nguyễn Trọng Nhân lúc đó là Viện trưởng Viện Mắt Trung ương (sau này là Bộ trưởng Bộ Y tế). Với lòng ngưỡng mộ các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam, ngưỡng mộ tướng Võ Nguyên Giáp, cố Giáo sư Fred Hollows mong muốn được giúp đỡ Việt Nam. Cái mà ông có thể giúp được là chuyển giao kỹ thuật mổ đục thể thuỷ tinh (TTT) hiện đại: đặt kính nội nhãn (IOL), giúp những người nghèo bị mù do đục TTT có thể được mổ sáng mắt. Với quan điểm tiến bộ đầy tính nhân văn: người nghèo cũng có quyền được hưởng các dịch vụ y tế chất lượng tốt, các nước đang phát triển cũng có thể áp dụng kỹ thuật mổ đục TTT ngoài bao đặt IOL hiện đại như ở các nước phát triển, giáo sư Fred Hollows đã gây quỹ để giúp đỡ các nước nghèo. Trước khi đến Việt Nam, ông đã có 2 chương trình lớn giúp Nepal và Eritrea. Sau khi giáo sư mất, mong ước của ông về việc giảm chi phí mổ TTT để giúp cho người nghèo được các cộng sự theo đuổi. Và Tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận mang tên ông – Fred Hollows Foundation (FHF) đã được thành lập. Tiếp theo đó, hai nhà máy sản xuất IOL với giá thành hạ, chất lượng cao được xây dựng ở Nepal và Eritrea. FHF cũng hợp tác và đề nghị với hãng Scan Optics của Úc, đã cải tiến sản xuất ra kính sinh hiển vi phẫu thuật kẹp bàn. Tất cả đều nhằm mục đích tiện lợi cho công tác cộng đồng, hạ giá thành các sản phẩm, thiết bị có liên quan đến mổ đục TTT để có thể mổ được cho nhiều người nghèo hơn tại các vùng xa xôi hơn.
Kể từ lần đầu tiên Giáo sư Fred Hollows thăm Việt Nam, ông đã mang thông điệp và tinh thần ấy đến Việt Nam. Trong buổi gặp với các bác sĩ ngành mắt Việt Nam, ông rất ấn tượng với lòng quyết tâm muốn học hỏi của các bác sĩ và ông đã làm cho họ tin tưởng rằng họ có thể học và mổ được theo phương pháp mới.
Từ đó, Quỹ Fred Hollows (FHF) đã có nhiều hoạt động tại các tỉnh nghèo của Việt Nam để giúp đỡ việc chữa trị và phòng chống bệnh mù do đục thuỷ tinh thể cho người dân.
Cùng làm việc với Viện Mắt Trung Ương Việt Nam (nay là Bệnh Viện Mắt Trung Ương (VNIO)), Quỹ Fred Hollows đã đào tạo kỹ thuật mổ đục thuỷ tinh thể có đặt thể thuỷ tinh nhân tạo (IOL) và trang bị thiết bị hiện đại cho 322 bác sĩ ở tất cả các tỉnh, thành của Việt Nam để họ có khả năng thực hiện phương pháp mổ tiên tiến này nhằm phục hồi thị lực tốt cho bệnh nhân đục thể thuỷ tinh. Ngày nay, kỹ thuật phẫu thuật này đã trở nên phổ biến tại Việt Nam.
Khi nguồn nhân lực trong nước đã có đủ khả năng phẫu thuật đục thuỷ tinh thể và đào tạo thêm phẫu thuật viên, thì chương trình đào tạo kỹ thuật mổ tại Việt Nam của FHF đã hoàn tất và các chương trình dự án chuyển sang một giai đoạn mới.
Tháng 3/2000, Bác sĩ
Sanduk Ruit - người từng làm việc với Quỹ Fred Hollows và hiện tại là Giám đốc Trung Tâm Nhãn Khoa Tildanga ở Nepal - đã tập huấn cho 7 phẫu thuật viên nhãn khoa về phương pháp phẫu thuật đường hầm không khâu chỉ. Kỹ thuật mổ không khâu đã giảm bớt chi phí về chỉ phẫu thuật cho mỗi ca mổ đục thuỷ tinh thể, càng tạo điều kiện giúp những người nghèo dễ dàng tiếp cận hơn với phẫu thuật. Các phẫu thuật viên được đào tạo này đã phổ biến kỹ thuật này trên khắp Việt Nam; tại miền Trung họ đã giúp truyền đạt kỹ thuật này cho các bác sĩ ở các địa phương như: Huế, Phú Yên, Gia Lai, Quảng Ngãi, Quảng Trị và các tỉnh khác.
Quỹ Fred Hollows cũng đang tặng hàng ngàn thuỷ tinh thể nhân tạo mỗi năm để dùng trong mổ miễn phí cho các bệnh nhân nghèo ở Việt Nam; như là một phương thức nâng cao nhận thức về bảo vệ mắt của người dân, theo đó, sẽ cải thiện việc tiếp cận với các chương trình phẫu thuật.
Năm 2003, Bác sĩ Huỳnh Tấn Phúc, một bác sĩ nhãn khoa, được bổ nhiệm làm Giám Đốc Chương Trình Quốc gia của FHF tại Việt Nam và một giai đoạn mới cho các dự án cộng đồng đã được khởi động. Giai đoạn từ 2003-2007 FHF Việt Nam đã triển khai thành công các chương trình chăm sóc mắt toàn diện tại 12 tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên; góp phần vào việc đưa dịch vụ chăm sóc mắt tại khu vực này lên ngang tầm với 2 đầu Hà Nội và TP HCM. FHF Việt Nam chú trọng tính chất bền vững của các dự án về nhiều mặt. Mô hình thành công này đã tạo điều kiện cho sự mở rộng chương trình về cả chất lượng và số lượng. Từ năm 2004-2006, các hoạt động của Quỹ FHF tại Việt nam đã gặt hái nhiều thành tưụ đầy ý nghĩa, với 7 dự án mới lần lượt được thực hiện ở các tỉnh Quảng Trị, Phú Yên, Quảng Nam, Bình Định, Vĩnh Long, Quảng Bình, và thành phố Đà Nẵng. Từ năm 2007, dự án mới được mở ra tại Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi và Đắc Lắc, nâng tổng số các tỉnh có dự án lên con số 10. Năm 2008, dự án được mở ra tại Thái Bình và Hải Dương.
Trên nền tảng những mô hình thành công đạt được, FHF Việt Nam đang đặt mục tiêu mới cho mình: phát triển chương trình chăm sóc mắt cộng đồng ra toàn quốc. Và hiện nay Quỹ đã hoạt động tại cả 3 miền với nhiều chương trình khác nhau, đa dạng hơn và hướng đến việc giải quyết các bệnh mắt khác thay vì chỉ tập trung vào các chương trình mổ đục thủy tinh thể như ban đầu.
Chương trình tại Việt nam được tài trợ bởi: • Tổ chức Silverton Foundation • Ngân hàng Standard Chartered Bank • Chương Trình Hợp Tác giữa các Tổ Chức Phi Chính Phủ Australia (ANCP), Cơ quan phát triển quốc tế Australia (AusAID), Tổ chức Atlantic Philantrophies, Hawaiian Group, và các nhà tài trợ khác.
Một cách tổng quát, Chương trình Phòng Chống Mù Loà của FHF tại Việt Nam chú trọng vào các vấn đề sau:
• Nâng cao năng lực chăm sóc mắt thông qua việc đào tạo y bác sĩ, xây dựng hoặc nâng cấp các cơ sở điều trị mắt và cung cấp trang thiết bị • Hỗ trợ thiết lập và củng cố mạng lưới chăm sóc mắt từ cấp xã cho đến cấp tỉnh • Nâng cao nhận thức về chăm sóc mắt cho người dân địa phương • Giúp đỡ chi phí phẫu thuật đục thuỷ tinh thể cho bệnh nhân nghèo. • Thực hiện các chương trình khúc xạ học đường. • Vận động chính quyền địa phương quan tâm đến vấn đề chăm sóc mắt cho người dân.Hiện tại, Văn phòng Dự án FHF Việt nam đang trực tiếp làm việc và quản lý hơn 13 dự án tại 13 tỉnh thành trên cả nước là Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Đắk Lắk, Vĩnh Long, Thái Bình, Hải Dương, Hà Nội (Viện Mắt TW), với tổng ngân sách hơn
1,5 triệu USD mỗi năm.
Quỹ Fred Hollows luôn hướng việc phát triển các dự án đi đôi với các mục tiêu bền vững, và yếu tố con người – nhân lực trong chăm sóc mắt luôn được đề cao. Do đó, bên cạnh việc tài trợ cho hơn
12.000 ca mổ đục thủy tinh thể mỗi năm, từ năm 2002 cho đến nay, Quỹ đã đào tạo về chăm sóc mắt ban đầu cho
3.638 công tác viên y tế thôn bản và cán bộ y tế xã, thiết lập một hệ thống nhân viên y tế thôn bản chăm sóc mắt rộng khắp từ tuyến xã đến tuyến tỉnh, đào tạo cho
334 bác sĩ, phẫu thuật viên, y sĩ, điều dưỡng và cử nhân nghiên cứu. Các chương trình khúc xạ học đường cũng là một thành công đáng kể của Quỹ Fred Hollows. Từ năm 2002 đến nay, các dự án của Quỹ đã thực hiện khám tật khúc xạ cho
173.514 học sinh các cấp, cấp
2.603 đôi kính cho các em mất tật khúc xạ, và đào tạo cho 224 giáo viên các cấp về khúc xạ học đường. Ngoài ra, Quỹ Fred Hollows đã cung cấp hơn
$US1,000,000 trang thiết bị Nhãn khoa cho các tỉnh dự án và thực hiện xây dựng mới, nâng cấp các Bệnh viện/ Trung tâm Mắt nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc Mắt tại đến với rộng rãi người dân, đặc biệt là bà con nghèo.
Dự án cũng nâng cao nhận thức cho người dân để họ có thể tự chăm lo cho sức khỏe mắt của mình, xóa bỏ những thành kiến, sự hiểu biết lạc hậu về mù lòa, để mỗi người dân có ý thức chăm lo đến sức khỏe ban đầu nhằm giảm bớt các chi phí cho gia đình và xã hội – thông qua các họat động truyền thông giáo dục sức khỏe.
Trong tương lai, FHF tại Việt Nam sẽ cùng hợp tác với các tổ chức I/NGO về mắt khác, tranh thủ sự giúp đỡ về chuyên môn kỹ thuật của Viện Mắt TW, Bênh Viện Mắt TP HCM, Đại học Y Huế, Bệnh viện Mắt Đà Nẵng, v.v... để triển khai chương trình mắt toàn diện tại 15 - 20 tỉnh thành trong cả nước, mở rộng phạm vi và chất lượng các dự án được triển khai, chú trọng tính chất bền vững của các dự án về nhiều mặt.
Ngoài ra, một mục tiêu quan trọng khác là xây dựng Tổ chức FHF tại Việt Nam vững mạnh, với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, có khả năng quản lý và thực hiện nhiều dự án lớn, cũng như khả năng gây quỹ, tìm kiếm nguồn tài trợ ổn định để thực hiện các chương trình có tính phát triển bền vững, lâu dài và mang tầm vóc quốc gia hơn./.